Xu Hướng 11/2022 # Chi Phí Nhà Ở Gia Tăng Đang Làm Mở Rộng Khoảng Cách Giàu Nghèo Ở Úc / 2023 # Top 15 View | Rafs.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Chi Phí Nhà Ở Gia Tăng Đang Làm Mở Rộng Khoảng Cách Giàu Nghèo Ở Úc / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Chi Phí Nhà Ở Gia Tăng Đang Làm Mở Rộng Khoảng Cách Giàu Nghèo Ở Úc / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Rafs.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một phần năm các hộ gia đình nghèo nhất ở Úc đang phải trích ra thu nhập cho chi phí nhà ở nhiều hơn bao giờ hết, trong khi gánh nặng tài chính này không ảnh hưởng nhiều đến các hộ gia đình giàu.

Một phân tích từ viện nghiên cứu độc lập Grattan Institute chỉ ra rằng giá nhà đang làm mở rộng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, mặc dù sự chênh lệch về thu nhập vẫn ở mức ổn định.

Phân tích này cho thấy khi tính đến chi phí nhà ở, tổng thu nhập khả dụng của người giàu tăng gấp hai lần so với người nghèo.

Giám đốc phụ trách chương trình tài chính hộ gia đình của viện Grattan Institute, ông Brendan Coates, phát biểu “Nếu muốn thúc đẩy sự công bằng thì chúng ta cần phải giải quyết vấn đề về nhà ở”.

Phân tích này kết hợp số liệu của Cục Thống kê Úc (ABS) về thu nhập khả dụng và dữ liệu về chi phí thuê nhà hoặc sở hữu nhà.

ABS chia các hộ gia đình ở Úc thành năm nhóm dựa theo thu nhập khả dụng của họ. Năm 2018, một phần năm các hộ gia đình nghèo nhất ở Úc đã chi 29% trong tổng thu nhập của họ vào nhà ở.

Trong khi đó, chi phí nhà ở hầu như không thay đổi đối với một phần năm các hộ gia đình giàu nhất ở Úc.

Năm 2018, nhóm này đã chi 9.4% trong tổng thu nhập cho khoản thanh toán về nhà ở, so với mức 9.3% được ghi nhận vào năm 1995.

Mặt khác, các hộ gia đình có thu nhập trung bình dành ra 16% trong tổng thu nhập cho chi phí nhà ở năm 2018.

Số liệu này tăng từ mức 13% hồi năm 1995 và 15.1% cách đây mười năm.

Giáo sư kinh tế thuộc Đại học Curtin, bà Rachel Ong ViforJ, nói rằng nếu xu hướng này tiếp diễn thì sẽ có thêm nhiều người có thu nhập thấp bị tụt lại đằng sau và phải chật vật để trả tiền thuê nhà hoặc tiền thế chấp mua nhà.

Bà cho hay “Khi người dân bị căng thẳng bởi chi phí thuê nhà hay tiền trả góp mua nhà thì họ sẽ dễ bị ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần. Một vấn đề khác là những đứa trẻ lớn lên trong các gia đình có ba mẹ nghèo khó và chịu áp lực chi phí nhà thường có xu hướng ‘đi theo vết xe đổ’ tương tự. Do đó, các em bị thiệt thòi hơn những trẻ em sống trong gia đình khá giả”.

Trong khoảng thời gian đó, nhóm đạt tăng trưởng tiền lương mạnh nhất là các gia đình giàu có nhất với 36.5%. Các nhóm còn lại có mức thu nhập chỉ tăng khoảng từ 27% đến 30%.

Tuy nhiên, phân tích của viện Grattan Institute cũng chỉ ra một bức tranh khác khi xét đến chi phí nhà ở.

Trong vòng 12 năm tính đến năm 2016, tổng thu nhập khả dụng của các hộ gia đình nghèo ở Úc sau khi trừ chi phí nhà ở là 16.2%, so với mức 20.6% đối với các hộ gia đình có thu nhập trung bình và 33% đối với các gia đình khá giả nhất.

Khoảng cách giàu nghèo cũng tăng trưởng dựa vào giá trị tài sản ròng – là giá trị tài sản và tiền tiết kiệm của mỗi gia đình.

Gia đình nghèo nhất chỉ tăng giá trị tài sản ròng ở mức 8.1%, trong khi gia đình giàu nhất đạt mức tăng tới 51.6%.

Phát biểu với các phóng viên của báo The Age, ông Coates nhận định rằng khoảng cách này sẽ ngày càng xa hơn vì những người trẻ và nghèo khó ở Úc không có khả năng mua nhà, và sau này cũng sẽ ít có khả năng được thừa hưởng bất động sản.

“Khả năng làm chủ một căn nhà của riêng mình của người trẻ giàu có hiện nay thấp hơn so với ba thập kỷ trước nhưng không đến nỗi quá thấp, trong khi khả năng này với người trẻ nghèo khó thì thấp hơn rất nhiều, ông Coates cho biết.

“Trong tương lai, chúng ta sẽ chứng kiến khoảng cách rộng lớn hơn giữa người có nhà và người không có nhà do thế hệ được thừa kế ngôi nhà từ cha mẹ của họ ngày càng đông hơn. Chúng ta cũng biết rằng việc thừa hưởng này thường chỉ xảy ra trong những gia đình giàu có”, ông Coates cho biết thêm.

Ông Coates và các đồng nghiệp của ông đã trình bày bài phân tích này tại hội nghị Chính Sách Xã hội Úc của Đại học New South Wales vào hôm 9/9.

Bài trình bày tập trung đánh giá Đề án Quốc gia về Nhà cho thuê Khả thi, được dẫn đầu bởi chính phủ liên bang với sự phối hợp của các tiểu bang.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng có những “cách thức tốt hơn để cung cấp sự hỗ trợ nhà ở hiệu quả và giúp đỡ tốt hơn cho những người đang thực sự cần nhất”.

Theo Vtimes

Cuộc Sống Ở Mỹ: Làm Giàu Ở Mỹ? / 2023

Có 3 cấp độ kiếm tiền cơ bản, cho dù ở đâu: Một là dùng sức để kiếm tiền, hai là dùng tri thức, kỹ năng để kiếm tiền và thứ ba là… dùng tiền để kiếm tiền. Với một người mới nhập cư ở Mỹ, hầu hết mọi loại bằng cấp ở VN đều không “tương thích” trên đất Mỹ, nên “cấp độ” kiếm tiền thứ 2, chỉ có một số ít người thỏa mãn được.

Cấp độ kiếm tiền thứ 3, nhiều người tuy có vốn, nhưng để đầu tư, dùng đồng tiền sinh lợi ngay cũng không hẳn là việc có thể triển khai trong ngày một ngày hai. Nên “cấp độ” kiếm tiền phổ thông nhất vẫn là “dùng sức để kiếm tiền”. Thời đoạn này kéo dài bao lâu, hẳn nhiên tùy thuộc vào sự hòa nhập nhanh hay chậm của “chủ thể”.

Dùng sức để kiếm tiền

“Dùng sức để kiếm tiền” cũng có mấy yếu tố, tỉ lệ thuận với thành công: Khả năng tiếng Anh, sức khỏe và nỗ lực. Trong đó yếu tố thứ ba dường như lại quan trọng nhất, tất nhiên chúng ta tạm coi yếu tố sức khỏe mọi người đều ở mức chấp nhận được.

Có một điều khiến người nhập cư cảm thấy tự tin hơn, đó là ở Mỹ anh làm việc gì, vị thế cao hay thấp, đều không bị cái rào cản “sĩ diện” gây khó dễ. Tôi biết có người Mỹ gốc, rất thành đạt, nhưng lúc đã nghỉ hưu, thấy buồn tay buồn chân bèn vô siêu thị xin làm cái việc… bỏ hàng vô bịch ni lông cho khách. Vẫn thưa gửi lịch lãm, gọi khách hàng là “ông bà”, cảm ơn, chúc một ngày tốt đẹp…

Ngay cả làm cùng một công ty, người ta cũng chẳng biết lương ai cao, ai thấp, “lính” hay “sếp”, chủ hay tớ cũng cày hùng hục như nhau… Mới hôm rồi, gia đình mình kiểm tra trong nhà, thấy trên mái thiếu một con ốc, bèn gọi điện cho chủ đầu tư. Rất bất ngờ khi người xuất hiện là ông kiến trúc sư trưởng, phụ trách toàn bộ việc thi công của cả khu hàng trăm nhà. Ông này bắc thang hì hục trèo lên mái, kiểm tra, rồi đi lùng tìm đúng con ốc còn thiếu, sau đó lại hì hục trèo lên lắp con ốc, hoàn toàn không kêu bất cứ một “lính lác” nào làm thay cái việc nhỏ nhặt ấy.

Để bắt tay ngay vào một công việc phổ thông trên đất Mỹ là không hề khó. Các tiệm nail như ở bang tôi luôn dán thông báo tuyển người dày đặc khắp nơi. Một người chưa biết gì về nail, bắt đầu đi học rồi túc tắc đi làm, trong vài tháng đã có thể có thu nhập 700- 800 đô la Mỹ/tuần. Một thợ nail giỏi ở đây có thể kiếm 6-7000 đô/tháng.

Một công việc khác, đối tượng du học sinh hay chọn, đó là bồi bàn, phụ bếp, lương tính theo giờ, cộng thêm tip (ở VN hay gọi theo kiểu Pháp là tiền “boa”), một ngày có thể kiếm trên dưới 100 đô. Một công việc khác, thích hợp với nam giới, đó là vào làm trong các hãng, xưởng, đứng dây chuyền sản xuất, phụ việc trong các siêu thị… Mấy công việc này thường xuyên có ở các trung tâm giới thiệu việc làm miễn phí của chính phủ.

Bạn tới đó, để lại hồ sơ, số điện thoại của mình, khi có việc trung tâm sẽ kêu ngay, bằng những nhân viên nói ngôn ngữ của bạn. Mấy việc này, lương trung bình, khởi điểm ở mức thấp, khoảng 8 – 10 đô/giờ. Tuần làm 40 giờ. Nếu làm quá số giờ có thể được tính lương lũy tiến. Nhiều người chọn làm đúng 40 giờ/tuần, nhưng dồn vô, ngày làm 10 – 12 tiếng. Coi như giải quyết trong nửa tuần, nửa còn lại đi kiếm việc khác.

Vì vậy nhiều người siêng, có thể “cày” từ 2 – 3 việc. Với mức thu nhập trên 2 ngàn đô một tháng, cả hai vợ chồng cùng đi làm là hoàn toàn đủ trả góp một căn nhà khang trang, hai chiếc xe, nuôi hai đứa con cùng toàn bộ chi phí. Làm trên hai ngàn đô là bắt đầu có dư, tích lũy, hoặc du lịch đó đây khi rảnh. Đó là tình hình ở Texas. Mức thu nhập và chi phí này có thể khác biệt ở những bang khác.

Nói ra có thể đơn giản, nhưng sự cực nhọc là có thật, tùy từng công việc, từng môi trường. Sự cạnh tranh giữa những người cùng hoàn cảnh có thể rất gay gắt. Môi trường làm việc ngột ngạt. Giờ giấc thay đổi lộn xộn, việc phải làm các ca từ tối đến sáng hôm sau xảy ra thường xuyên, vợ chồng con cái có thể ít gặp mặt nhau, nhất là với những người… quá siêng kiếm tiền.

Tuy nhiên, với tình hình chung như vậy, chúng ta có thể hiểu vì sao sau vài năm “cày ải”, hầu hết những người nhập cư bắt đầu ổn định dần với số tiền tích góp được. Thêm nữa nhiều người tranh thủ vừa làm vừa học, nên sau vài năm họ vừa có vốn tài chính, vừa có vốn tiếng Anh, nhiều người lận lưng thêm được tấm bằng Mỹ. Vậy là cất cánh. Nếu đã giữ được chữ “siêng”, cũng như “trời cho” sức khỏe ổn định, chẳng mấy người lâm vào cảnh thất bại.

Kiếm tiền bằng kỹ năng, bằng cấp

Thu nhập từ tính giờ, chuyển sang tính lương theo năm. Ngoại trừ những giai đoạn khủng hoảng trầm trọng – khá hiếm hoi, hầu hết người dân Mỹ sống “hồn nhiên”, làm bao nhiêu xài bấy nhiêu, không cần lo nghĩ quá nhiều tới “ngày mai”, vì tiền thuế họ đóng hằng năm đã đảm bảo cuộc sống về già. Các hàng quán còn khám phá ra một đặc điểm rất lạ, đó là ngày người ta xài tiền nhiều nhất là những ngày sắp phát lương mới.

Đúng, khi sắp có lương, dân Mỹ bắt đầu kiểm tra tài khoản và xài cho bằng hết số còn tồn đọng của tháng trước!

Dùng tiền để kiếm tiền

Ngay khi đặt chân đến đất Mỹ tôi đã thấy hai biểu hiện rất rõ của một nền kinh tế phát triển, đó là lãi suất ngân hàng thấp, tiền thuê mặt bằng rất rẻ. Hai yếu tố này khiến người ta rất dễ làm ăn và nó khuyến khích, tạo điều kiện cho người ta làm ăn.

Ngược lại, nó loại trừ những đối tượng “ăn sẵn”, như bỏ tiền vô ngân hàng rút lãi suất, hoặc có mặt bằng cho thuê rồi sống phè phè, mặc người kinh doanh è cổ gánh trên vai cái gánh nặng rất phi lý.

Khi đã ở Mỹ một thời gian, có một số vốn trong tay, dù mình chưa có kinh nghiệm, nhưng quen một số bạn bè doanh nhân họ đều nói: Khi đã có vốn thì nhìn quanh ở đâu cũng có cơ hội kiếm tiền. Thủ tục thành lập doanh nghiệp tối giản, mọi mắt xích vận hành đã đâu ra đó hàng trăm năm, từ nhân sự, thuế má, hệ thống luật… Bạn cứ đặt đồng vốn vào hệ thống ấy và nó chạy, rất minh bạch.

Ai càng có nhiều ý tưởng, nhiều sáng kiến, càng có nhiều khả năng thành công. Ngược lại, bạn đặt vào hệ thống ấy sự gian trá, lập tức nó sẽ hất ra ngoài, hoặc phải trả những cái giá rất đắt.

Mọi thứ có vẻ “thông thoáng” như trên, vậy tại sao ở Mỹ vẫn có dân thất nghiệp, thậm chí là vô gia cư?

Thực sự có hai đối tượng rất khó để có thể hòa nhập vào xã hội Mỹ, khó hơn rất nhiều so với cùng đối tượng ấy nếu sống ở VN: Đó là nghiện ma túy và… từng ngồi tù. Bất cứ hãng xưởng, công ty nào, sau khi phỏng vấn xin việc, ứng viên đều phải đi xét nghiệm máu. Nếu bạn dương tính với ma túy, coi như mọi cánh cửa đóng sập. Tương tự như thế, nếu bạn từng ngồi tù. Án tích đeo bạn cả đời, không xóa được trong hệ thống.

Ngay cả việc bạn từng vi phạm luật lệ giao thông ở mức nặng, ví dụ say rượu lái xe, “cái vết” ấy cũng bị lưu luôn. Hầu hết các nhà tuyển dụng, các công ty, cho đến các ông chủ nhỏ đều e ngại khi tuyển những đối tượng này. Và sự “khắc nghiệt” ấy dần đẩy người “có vết” trôi từ nhà ra ngõ, rồi trôi dần tới gầm cầu.

Tất nhiên, khi rơi xuống đáy cùng, trở thành những đối tượng như vậy, chính phủ lại có những kế sách an sinh khác dành cho họ. Tuy nhiên điều đó là rất nhục nhằn, giữa một xã hội coi trọng tự ái như đất Mỹ.

Nguyễn Danh Lam

Tôi Làm Giàu Ở Mỹ Như Thế Nào? / 2023

Ngày đến Mỹ tôi chỉ mới 30, là một người lanh lợi và rất quyết đoán, cộng với những kinh nghiệm tôi có được trong quân ngũ, tôi rất tự tin vào khả năng hội nhập của mình trong một xã hội mới, mặc dù tài sản mà tôi mang theo chỉ có một bộ đồ duy nhất mặc trên người và không một xu dính túi. Thế mà khi ngồi viết bài này, tôi đã là một người hưu trí.

Ngồi bồi hồi nhớ lại những ngày đầu tiên đến Mỹ, lương tối thiểu cho một công nhân không có nghề chuyên môn như tôi chỉ có 2,75 đô la và cao lắm cũng chỉ 4 đô la, lại là người Á Đông, không có xe cộ và trong lòng còn mang đầy những vết thương tình cảm quá lớn. Nhưng dù sao tôi vẫn tự nhủ: Mình phải cố gắng, và biết ra sao ngày sau. Thế rồi những việc xảy đến với tôi trong những ngày đầu ở Mỹ bây giờ lại là cả một vùng kỷ niệm.

Tôi đã đọc một số bài viết của các anh chị khác về sinh hoạt của người Việt 5 châu. Những đề tài được nói đến trong các bài viết như: Nước Mỹ không là thiên đường, Tôi làm giàu ở Mỹ, và các bài viết khác quanh quẩn thì nó vẫn nói lên thực trạng về “ước ao làm giàu” của mỗi người. Có rất nhiều bài lên tiếng chê bai nước Mỹ, các bài viết đã mang đến cho độc giả cái nhìn rất tiêu cực, và cũng làm cho những người ở Việt Nam không khỏi chùn chân khi quyết định đi Mỹ. Và tôi cũng nhận thức được rằng những bài viết mà tôi đã đọc, họ chỉ nói lên được một góc nhỏ nào đó trong quá trình va chạm thực tế của họ khi đến Mỹ, và nó cũng chỉ gói gọn trong khuôn khổ kiến thức của họ. Vì vậy trong phần “Ý kiến của bạn” có nhiều khen ngợi, và cũng đầy rẫy những chống đối chê trách. Vì vậy khi quyết định viết bài này, tôi xin xác định mục đích của bài viết này như viết về kỷ niệm, và mong được chia sẻ với bạn đọc những kinh nghiệm mà tôi có khi trải nghiệm cách làm giàu của tôi trên đất Mỹ. Và để thành công tôi đã áp dụng cách làm giàu như sau:

Tôi đã tập lắng nghe điều mọi người thích nói. Còn họ nói đúng hay sai thì không quan trọng, điều quan trọng là tôi tập được thói quen biết ghi nhận và tránh phát biểu những điều mà tôi không thực sự biết. Thói quen này đã giúp tôi có “cái nhìn thực dụng”. Người ta có thể nói suốt đời và nói rất giỏi, nhưng sẽ không thể làm được suốt đời và khi người ta bảo: Làm đi đừng nói vì thời gian không chờ khi bạn nói, thật là chí lý với tôi.

Tập được thói quen biết lắng nghe, biết kiềm chế phát biểu đã cho tôi “cái nhìn” và “cái nhìn” đã là chìa khoá mở cách cửa cho tôi đi đến thành công. Tôi nhìn được nhiều thứ khác nhau trong nhiều lĩnh vực từ kinh doanh, đến tài chính, tham khảo về cổ phiếu và ảnh hưởng của chính trị với kinh tế như thế nào, và tôi chợt nhận thức được một điều là tại Mỹ: Khi một người là một con nợ của các tập đoàn tài chính thì người đó là người có sức mạnh. Chẳng thế mà những ngày đầu trên đất Mỹ, nhiều anh bạn của tôi hãnh diện khoe với bạn bè là anh ta được cấp thẻ Visa, hay Master Card và cho biết là phải khó khăn lắm mới có được, trong khi tôi đã có trong tay trên 80 thẻ tín dụng từ Visa, Master Card, Monte Blanche, tới American Express.

Để có những thẻ này chẳng có gì là khó khăn, tôi chỉ cần mở một tài khoản trong ngân hàng thì ngoài thẻ ATM, họ cũng mời tôi làm đơn xin cấp các loại thẻ khác, mà thông thường nhất là Visa và Master Card. Xin đừng vội nghĩ là các ngân hàng tốt với bạn, hay bạn là người có quyền lực mà được mời để sử dụng các loại thẻ này, chẳng qua mỗi lần bạn dùng thẻ thì ngân hàng cũng có lợi nhuận, và ngân hàng họ cần có càng nhiều người dùng thẻ càng tốt.

Ngày đó thông thường thì khi cấp thẻ các ngân hàng không buộc người sử dụng phải trả tiền “Hội viên” (Free Membership). Nhưng tín dụng thì họ cấp cho cũng chỉ ở mức cao nhất khoảng 5.000 USD và thấp nhất khoảng 1.000 USD. Những thẻ tín dụng phải trả membership do các ngân hàng lớn cấp thoạt đầu tín dụng cũng như các thẻ không phải trả tiền hội viên. Các ngân hàng căn cứ vào thời gian sử dụng thẻ và quá trình dùng thẻ của bạn, không có sơ xuất như trả nợ trễ, hay trong hồ sơ tín dụng khác không có những dấu hiệu mà ngân hàng gọi là “Bad Credit” thì tín dụng của bạn sẽ được cho cao hơn. Từ cái “nhìn” này tôi đã thấy được sức mạnh của tín dụng như thế nào, nên tôi đã xin tất cả các loại thẻ nào mà tôi có thể xin được.

Mặc dù có số lượng thẻ lên đến 80 cái, thoạt đầu chỉ là để “trả đũa mấy anh bạn hay “nổ” của tôi”, nhưng một ngày tôi mới ý thức rằng tôi có cái sức mạnh tiêu dùng cùng lúc đến 275.000 USD. Dĩ nhiên sử dụng thì phải trả lại, và tôi chỉ có 25 ngày để hoàn trả mà không mất tiền lời. Và nếu phải trả số tiền tối thiểu của 80 thẻ thì chẳng có cách nào mà tôi trả nổi, nên tôi phải có chiến lược để vay và trả mà không phải trả tiền lãi, cũng như không bị trễ (late payment). Tại Mỹ khi bạn dính vào trường hợp bị “bad credit”, cũng đồng nghĩa với bạn đã đánh mất 50% khả năng huy động đồng vốn khi cần, và tất cả những nhu cầu mua bán cần đến tín dụng như xe hơi, nhà cửa, bạn đều phải trả mức tiền lãi cao hơn những người có “good credit”.

Tôi đã mua căn nhà đầu tiên vào năm 1979, bằng mớ tiền nhựa này, và mua tại phiên tài sản bị bán đấu giá. Căn nhà rộng 1700SF, có 4 phòng ngủ, hai phòng tắm với giá 42.000 USD, nhưng tôi phải trả hết số tiền trong vòng ba ngày. Lập tức tôi sử dụng ngay 30 thẻ tín dụng để lấy ra số tiền mặt 42.000 USD. Thanh toán xong tiền mua nhà, tôi tìm đến ngân hàng vay lại nợ để trả lại cho các thẻ tín dụng, điều mà tôi sửng sốt là mặc dù tôi mua căn nhà này với giá 42.000 USD, khi ngân hàng cho định giá để xác định mức lãi và tiền cho vay, họ định giá căn nhà tôi mua có giá thị trường đến 65.000 USD. Như vậy equity trong căn nhà tôi thặng dư đến 23.000 USD. Và với chương trình vay mua nhà: trả trước 25% hay 16.250 USD (Down Payment), tôi được vay 48.750 USD. Thực tế số tiền tôi phải có ngay để trả cho các thẻ mà tôi đã dùng chỉ có 42.000 USD, như vậy ngoài số tiền 42.000 USD phải hoàn trả, tôi vẫn còn có dư 6.750 USD. Và trong vài thập niên tôi vẫn dùng thẻ tín dụng để kinh doanh nhà đất, và trở thành Real Estate Broker. Tôi đã chọn địa ốc là môi trường hoạt động thường xuyên của tôi.

Tôi là một trong số lớn những người thành công trong giai đoạn đầu từ 1975 đến 1985. Tính đến thời điểm cuối năm 1985, tổng số trị giá tài sản của tôi lên đến trên 3 triệu USD. Và người ta nói: “Ông ấy giàu lắm! Nhưng nhà quê không biết hưởng thụ (?)”. Trong khi tôi là chủ trên danh nghĩa số tài sản lên đến trên 3 triệu, nhưng số nợ ngân hàng của tôi đến trên 75% thì có gì đâu để gọi là giàu? Nhưng tôi giàu vì tín dụng, vì cho đến thời điểm này tôi đã có credit line lên đến 2.500.000 USD, và có rất nhiều bạn hữu trong ngành tài chính, ngân hàng.

Và tôi lại có thêm triết lý làm giàu nữa là: Muốn giàu phải có các bạn giàu. Vì nước chỉ chảy xuôi chứ không chảy ngược. Với giới nhà giàu họ không cần khoe khoang, và không có thời giờ cho những chuyện phiếm vô bổ. Sự thành công rất dễ làm cho con người tự tin, nhưng khi thất bại thì lòng tự tin cũng trốn mất. Cái khác biệt giữa người có bản lĩnh và không bản lĩnh: là khi sa cơ thất thế người bản lĩnh vẫn không mất tự tin, và ngược lại.

Khi được nhiều người gọi mình là người giàu có, thì chính mình phải hiểu rõ có quả thật là mình giàu không, và nếu mình giàu thật, thì mình như thế nào? Được khen giàu thì có thích nhưng thực tế mình cũng chỉ như những người chưa giàu, nếu có chăng thì thay vì đi vào chốn ăn chơi mình được cư xử tốt hơn những người chưa giàu, nhưng cái giá phải trả cao hơn người chưa giàu là hàng chục lần.

Có một ngày tôi nhận được cú phone từ một sòng bài ở Las Vegas, đề nghị cho tôi làm member của sòng bài nếu tôi tham gia. Mỗi khi đi Las Vegas sẽ có phi cơ riêng đón tôi, khách sạn không phải trả tiền và ăn uống ở những nhà hàng nổi tiếng hoàn toàn free. Nếu tôi đồng ý tham gia thì phải thỏa mãn điều kiện duy nhất: mở một tài khoản tại casino với 30 ngàn USD, để được hưởng cái vinh dự là khách VIP. Một ngày cuối tuần, tôi gọi cho Casino, sau khi xác minh mã số, tôi cho họ biết tôi muốn tham gia cuộc đen đỏ tại Las Vegas và cần có phương tiện đến đó. Họ cho biết trong hai giờ sẽ có phi cơ riêng đón tôi tại San Francisco. Tự nhiên tôi thấy mình vĩ đại, mình thuộc giới thượng lưu và mình là VIP. Đến phi trường đã có xe đón thẳng về khách sạn, phòng tôi ở có giá 800 USD/ngày, trong phòng có hoa và một chai rượu ngon để sẵn, và tất cả hoàn toàn free. Một bữa ăn có giá 400 USD, nhưng thực phẩm cũng không khác mấy với những nhà hàng mà bữa ăn tối chỉ khoảng 50 USD, và chỉ một đêm tôi đã nướng hơn 40.000 USD. Và đó là cái giá phải trả. Khi ngồi nghĩ lại, nếu không bị mồi chài bằng những thủ thuật tiếp thị, đã cho tôi cái hư danh VIP, nếu chỉ cần suy nghĩ chín chắn tôi sẽ lắc đầu khi được mời mọc. Nhưng vì có chút tiền nên tôi đã vội vã nghĩ rằng mình xứng đáng để được là VIP. Thật là điên rồ phải không các bạn.

Như tôi đã viết ở đoạn trên, khi có chút tiền, tôi tưởng là mình đã có nhiều, dù đã chuẩn bị tinh thần là sống thực tế, nhưng càng chuẩn bị thì càng có nhiều cơ hội cho mình phạm lỗi. Mặc dù thành công trong ngành địa ốc, nhưng tôi lại muốn dấn thân trong ngành cổ phiếu. Tôi thành công vài vụ, và thấy ngon ăn nên dốc toàn lực ăn thua đủ để rồi chưa đầy một năm sau khi bừng mắt dậy thấy mình trắng tay. Công lao 10 năm chỉ một phút bốc hơi đi mất (năm 1987).

Thói đời là không ai chấp nhận cái đích mà mình đã đạt được, vì không một ai lại bằng lòng với cái mà mình có và họ biện minh bằng rất nhiều lý do khác nhau để bào chữa cho cái tham vọng của mình, và tôi cũng thế. Trong 10 năm tôi tạo dựng được số vốn hàng triệu USD, thay vì chấp nhận thành quả, và sống an nhàn thụ hưởng, thì tôi lại nghĩ chỉ 10 năm mà mình đã làm được như thế này, mình nên lên kế hoạch khác cho 10 năm tới. Và từ 1985 đến 1995 dù có khôn ngoan cách mấy tôi vẫn đón nhận thất bại nhiều hơn thành công. Trận động đất năm 89 và khủng hoảng kinh tế thời kỳ đó làm tôi lại rỗng túi, và tôi lại tìm kiếm cơ hội.

Như tôi đã trình bày ở phần trên, tôi là một Real Estate Broker chuyên về thị trường nhà phát mãi (foreclosure). Tôi có thông tin về một Plaza của một Nhật Kiều đang gặp khó khăn về tài chính, và ông đang có ý định bán đi. Thay vì tôi trực tiếp tiếp cận để đề nghị làm đại diện bên bán, tôi đã tìm hiểu thói quen của người khách hàng tương lai này: vợ chết, là một người theo Phật giáo, mỗi tuần đi ăn sushi và uống rược saké. Tôi đã lần mò theo ông ta gần ba tháng để tiếp cận làm quen. Trong suốt thời gian này tôi và ông ta chỉ trao đồi về suhsi và shasimi, cho đến một ngày ông ta chính thức ngỏ lời mời tôi về thăm nhà của ông, thì tôi biết chắc ông ta sẽ là khách hàng của tôi. Cái listing của ông có trị giá 32 triệu USD, với mức hoa hồng 10% và sau 7 tháng tôi đã thành công việc bán và nhận số hoa hồng 3 triệu USD. Và cũng nhờ ông, tôi còn bán thêm được hai khu thương mại khác do các bạn ông làm chủ.

Sau khi bán xong cái Plaza, và nhận tiền hoa hồng, trong bữa ăn sushi ông hóm hỉnh hỏi tôi: Làm sao anh bán được cái Plaza của tôi trong khi có ít nhất 4 Brokers khác từng listes cho tôi nhưng không bán được, thế mà anh lại thành công? Và tôi cũng trả lời ông hiểm hóc không kém: vậy ông có hối hận đã trả cho tôi 10% hoa hồng không? Chúng tôi cùng cười ý nhị với nhau, tuy nhiên ông vẫn cho tôi một lời khen khác: Anh có biết là tôi rất thoải mái khi làm việc với anh, và tôi rất vui khi con trai tôi nhìn anh và hỏi: Đây là người đã bán được Plaza cho chúng ta đây sao? Còn anh thì trả lời: Không phải riêng tôi, mà còn có sự hỗ trợ của cha anh nên sự thành công có được là do kết hợp của cả hai.

Trong nhiều thương vụ, một số chuyên gia vẫn mắc phải cái “tôi” của mình, và chính vì cái “tôi” của họ đã làm cho rắc rối, đôi khi còn hỏng cả mối quan hệ cần thiết trong kinh doanh.

Nguyên thuỷ tôi là kỷ sư thiết kế phần mềm, nhưng sau vài năm làm nghề, tôi chuyển sang làm Broker địa ốc, và học tiếp để lấy Cao học. Và sau cùng lấy lớp chuyên nghành về Marketing. Và chính môi trường làm việc của Marketing đã dạy tôi rất nhiều về “Gặp cứng thì phải nên mềm”.

Thật ra trong thương trường luôn có muôn vàn cạm bẫy, người ta cài nhau vào các thế bí, cũng như luôn sẵn sàng bán cái cho người khác để lẩn tránh trách nhiệm.

Hiểu được như vậy, nên tôi làm việc theo sách vở, khi cần luật, tôi tìm đến văn phòng luật sư, chứ không nghe lời các nhà tư vấn không hành nghề. Tôi cũng không tư vấn cho bất cứ ai về những lãnh vực dù là tôi biết nhưng không có bằng hành nghề cũng như không bán rẻ cái đạo đức kinh doanh (Ethic code).

Trong đời sống xã hội Mỹ, làm chính trị không khó, nhưng mất nhiều thời giờ lại còn phải tạo được tiếng nói của mình, vì vậy con đường đến gần ngân hàng sẽ dài hơn con đường làm kinh tế. Luận về cái chữ Giàu, Nghèo ở nước Mỹ, Tôi đã tự hỏi: Phải có bao nhiêu tiền mới gọi là giàu, và khi nào bị coi là nghèo? Tôi không bao giờ quên được cái giây phút tầm thường rất con người của tôi, khi được người bảo trợ đưa về nơi mà tôi sẽ bắt đầu lại từ đầu. Trên chuyến đi hơn 200 dặm thì chúng tôi về đến thành phố Mobile, xe dừng lại ở một ngã tư đèn đỏ và đậu trước một quán ăn nhanh Kentucky Fry Chicken. Mùi gà nướng thơm lừng làm tôi thấy thèm khát, giống như kẻ bị bỏ đói lâu ngày và vì sĩ diện tôi đã không để lộ sự thèm khát, nhưng trong bụng tự nhủ khi nào đi làm có tiền mình sẽ ăn cho thỏa chí mới thôi.

Khi các bạn tôi biết tôi “giàu” hơn họ, họ đã hỏi tôi: Làm giàu dễ hay khó? Câu trả lời chẳng dễ dàng chút nào với tôi, vì làm thế nào để định nghĩa được cái dễ và cái khó? Nhưng tôi vẫn trả lời: Chẳng khó tý nào. Nhưng xin các bạn cũng phải hiểu sâu về hai chữ “Chẳng Khó” mà tôi đang dùng. Ở trong cái nghĩa của “chẳng khó” nó cũng bao gồm những thức khuya dậy sớm và phải đổ rất nhiều mồ hôi, và trí tuệ. Và “chẳng khó khi mình hoạch định được cho mình một hướng đi, và trong hướng đi, mình cũng phải biết khi nào phải ngưng và khi nào phải tiến”. Thành quả ra sao thì còn tuỳ thuộc vào kiến thức, khả năng lĩnh hội cũng như sự tháo vát của mình.

Trên mục này tôi đọc thấy có rất nhiều bạn đã than thở hay nghi kỵ về khả năng của mình. Tôi phải thành thật nói rằng các bạn đó sẽ không bao giờ giàu được, vì căn bản các bạn đó quá thiếu tự tin, thiếu kiến thức, và bất kể các bạn đó là ai, dù có học vị hay không, một khi thiếu tự tin và kiến thức thì cũng chỉ giống như những người thiếu học.

Một trong những người thành công ở Mỹ có anh David Duong, từ một người chuyên mua giấy phế thải, nay là một Tổng giám đốc của một cơ sở giải quyết vệ sinh môi trường tại Việt Nam. Hay một anh chàng khi khởi nghiệp tại Mỹ với nghề Assembly, và bây giờ là một trong những nhà cung cấp cable cho máy vi tính tại Sillicon valley. Hay một cậu bé làm nghề Office Cleanning đã trở thành Tổng giám đốc của công ty ở tuổi 19.

Tất cả những người này tôi đều quen biết, và ngoài những người này, còn rất nhiều người khác đã thành công. Các bạn sẽ hỏi: Làm thế nào để họ có thể thành công như vậy? Tôi xin thưa rằng: Những người này họ giống nhau ở một điểm: “Biết nhìn, biết lắng nghe, và biết nói”.

Tôi xin nêu ra vài trường hợp điển hình như của anh bạn làm nghề Assembly. Anh bạn này khi mới đến Mỹ bắt đầu bằng công việc lắp ráp cable cho máy vi tính, và làm việc cho hãng IBM. Trong một lần anh làm quen với một Buyer Agent, anh ta tìm hiểu về giá thành của một sợi dây nối trong hệ thống vi tính, và anh ta nhận thấy giá của các nhà phân phối cho hãng quá cao (đó là biết nhìn). Anh ta lập tức liên hệ với công ty chuyên cung cấp Cable cho nhà sản xuất và dốc túi mua vài cuộn. Anh ta làm hàng mẫu và khéo léo kết thân với Buyer Agent và chào hàng với giá rẻ mạt (biết nói). Người Buyer Agent đã thẳng thắn nói với anh ta: Tao thích mày nên mua dùm cho mày 50 sợi, nhưng tao không hứa là sẽ mua tiếp. Anh bạn này sung sướng hoàn tất 50 sợi dây trong ngày hôm sau, và tiền trao cháo múc.

Câu chuyện bán được 50 bộ dây được coi như một chuyện đùa, nhưng nó không đùa tý nào khi mục đích của anh bạn tôi là có được cái hoá đơn của hãng IBM đặt mua hàng. Chẳng có gì gọi là to lớn, nhưng sự thành công của anh ta bắt đầu từ đó. Vì khi đặt hàng, công ty luôn có hoá đơn, và cái hoá đơn dù chỉ có 50 sợi, nhưng cái hoá đơn đó có chữ IBM, và anh ta dùng cái hoá đơn này để đi chào hàng ở những hãng điện tử khác… Với một công ty dù nhỏ nhưng được một hãng lớn như IBM mua hàng thì hãng đó đã tạo được niềm tin. Và đơn đặt hàng mỗi ngày mỗi nhiều, và bây giờ anh là tổng giám đốc công ty do anh thành lập. Anh đã biết lắng nghe những yêu cầu của khách hàng và tiến đến thành công.

Câu chuyện của vị tổng giám đốc 19 tuổi cũng tương tự: khởi đầu chỉ là nhân viên quét dọn, nhưng cậu bé đã cố ghi chép tất cả địa chỉ của các công ty mà cậu phải phục vụ. Sau mỗi lần làm việc trong khi những người khác ra về thì cậu cố nán lại để gặp người quản lý để yêu cầu người này kiểm tra, bất cứ một sơ sót nào do người khác gây ra cậu ta đều tình nguyện ở lại để hoàn tất. Và đến một hôm người chủ của cậu ta bị mất hợp đồng, cậu ta đã lấy được tất cả những hợp đồng mà người chủ cũ đã đánh mất. Và dĩ nhiên là cậu ta trở thành giàu có, và chỉ hai năm sau, trên báo San Jose mercury News đã có bài viết về sự thành công của cậu này. Và tôi cũng phải xin nói rằng những vị này bây giờ đều đã tốt nghiệp ít nhất là cử nhân. Thành công là mục tiêu, nhưng để gìn giữ được nó luôn phải cần kiến thức.

Và khi viết bài này, tôi đang ở Việt Nam. Vì vậy khi đọc những bài mà một số bạn đã viết tôi thật sự ngỡ ngàng. Và cách so sánh xã hội Mỹ với xã hội Việt Nam cũng thật phiến diện.

Có bạn hỏi là nên đi Mỹ hay ở Việt Nam (?). Chẳng lẽ Toà Đại sứ Mỹ gửi thư đề nghị cho bạn được thảnh thơi leo lên máy bay tới Mỹ chăng? Có nhiều lần tôi đến Lãnh sự quán TP. HCM có các cô đã khóc ngất vì phỏng vấn thành công (!) và còn có hàng trăm người ăn chực nằm chờ để chờ phỏng vấn. Như vậy tại sao lại có bạn vẫn lên tiếng hỏi được câu này, và sự thật thì dù cho có hàng ngàn câu góp ý “Nên ở lại” thì ngày lên phi cơ bạn đó vẫn có mặt tại phi trường để nói Farawell với người thân còn ở lại.

Có một số sinh viên du học nêu lên câu hỏi: Học xong nên về Việt Nam hay ở lại? Và người hỏi lại là người có học vị Cao học. Tôi tự nhủ: Ngày trước khi tôi học xong, cầm mảnh bằng trong tay, khi nhận việc tôi không hề biết chút nào về công việc. Nhưng để trở thành nhân viên của công ty, thì ứng viên phải có trình độ mà họ yêu cầu. Vì vậy khi tốt nghiệp bạn chỉ là một sinh viên đã học xong các chương trình dành cho các chương trình mà bạn chọn. Nhưng không ai dám bảo đảm rằng khi nhận việc bạn có thể làm việc được ngay mà không cần huấn luyện.

Và khi các bạn nói rằng đã tốt nghiệp, nhưng không nói rõ bạn tốt nghiệp với loại điểm nào? Và bạn có khó khăn khi tìm được việc ở Mỹ không? Và với trình độ của một người tốt nghiệp ở Mỹ bạn thừa hiểu rằng cái học của bạn ở Mỹ chắc chắn chưa phù hợp với xã hội Việt Nam ngày nay. Mặc dù Việt Nam đang trên đà phát triển.

Có bạn còn than rằng: “Nước Mỹ không là thiên đường” tôi thấy rất đúng, vì tôi chưa nghe ai nói nước Mỹ là thiên đường cả, mà chỉ nghe nói rằng quốc gia này có nhiều cơ hội cho mọi người tiến thân. Có rất nhiều người tôi gặp đã nói: Cố sang Mỹ đi làm vài năm kiếm chút tiền rồi về lại Việt Nam làm vốn kinh doanh. Như vậy họ có đến Mỹ để tìm thiên đường đâu? Họ đến Mỹ để tìm cơ hội kiếm tiền, nhưng làm sao họ kiếm tiền được khi học vấn không có, còn ngôn ngữ thì không! Quả thật có chuyện mang tiền Mỹ về Việt Nam họ sống sung sướng vì sự chênh lêch mệnh giá của hai loại tiền, nhưng làm sao để dư được khi họ chỉ đủ sức nuôi chính họ trong xã hội Mỹ?

Và cũng không thiếu các bạn hiện sống tại Mỹ có cái nhìn rất thiển cận về Việt Nam. Dĩ nhiên giai cấp giàu nghèo thì ở đâu cũng có, tại Mỹ cũng vậy. Các bạn hãy nhìn xem cứ mỗi dịp Giáng sinh về thì tại San Francisco có bao nhiêu người chết cóng vì đói lạnh. Nhưng tôi ít nghe nói tại Việt Nam có người chết vì đói lạnh. Còn cơ hội làm giàu thì chính thời điểm này có rất nhiều cơ hội cho mọi người, làm giàu ở Việt Nam chỉ tiếc là phần lớn những người chưa giàu lại không chịu học cách để nhìn…

Nếu có bạn nào còn nghi ngờ những điều tôi viết trong bài này xin cứ liên hệ với tòa soạn để lấy địa chỉ email của tôi. Tôi sẽ hướng dẫn bạn làm giàu. Làm giàu không khó lắm đâu, chỉ sợ các bạn không có cái đảm lược cần thiết để làm giàu. Sự công bằng trong ngòi viết là cần trung thực, sự trung thực cho người đọc cái “nhìn” trung thực, và khi viết trung thực lòng ta thật thanh thản.

Nhìn vào hai xã hội khác nhau, thì không nên so sánh, từ đạo đức, văn hoá hay những cái khác, mà hãy đón nhận và bằng lòng với cái xã hội mà mình chọn. Các bạn không thể đòi hỏi xã hội Việt Nam phải văn minh như nước Mỹ, hay mang cái xã hội Mỹ làm tiêu chuẩn mẫu mực cho mọi người. Khi về Mỹ, tôi yêu quý đất nước này, nhưng khi về Việt Nam lòng tôi lại tràn ngập những yêu thương, vì đây là quê cha đất tổ. Tôi thật sự thích thú mỗi khi đi ngang một thành phố đang phát triển, tôi không khó chịu khi lái xe trên con đường bụi mù, vì phải có những bụi mù thì sự phát triển mới thành hình được.

1,624 người xem

Đạo Đức Làm Giàu Ở Việt Nam Thời Pháp Thuộc / 2023

Tác giả bài viết: LÝ TÙNG HIẾU

Trên bình diện khái niệm, đạo đức có nghĩa là ” những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nói tổng quát)“, và cũng có nghĩa là ” phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có ” [hoàng phê CB, 1998]. Còn làm giàu là một bộ phận của văn hoá mưu sinh và phụ thuộc vào ý thức hệ của chủ thể làm giàu. Vậy, bàn về đạo đức làm giàu không thể thoát ly khỏi bối cảnh văn hóa muu sinh và ý thức hệ của các chủ thể làm giàu; đồng thời cũng cần phải hướng tới mục đích xây dựng những tiêu chuẩn, nguyên tắc quy định hành vi, quan hệ của các chủ thể làm giàu đối với nhau và đối với cộng đồng.

Văn hóa mưu sinh và những chủ thể làm giàu thời Pháp thuộc

Thời kỳ thuộc địa bán phong kiến của đất nước ta mở đầu với sự kiện triều đình Huế ký kết Hòa ước Quý Mùi (1883) trao chủ quyền quốc gia cho Pháp, và kết thúc với Cách mạng tháng Tám (1945). Trong thời kỳ này, nền kinh tế của Việt Nam chuyến đổi mạnh về cơ cấu để trở thành vùng cung cấp nguyên nhiên liệu và thị truờng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của nước Pháp.

Trên địa bàn Bắc bộ, thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản Pháp tiến hành xây dựng các cơ sở công nghiệp khai khoáng và năng lượng (than đá, sắt, đồng, thiếc, nhiệt điện…), công nghiệp nhẹ (dệt, rượu bia…). Trên địa bàn Trung bộ, tư bản Pháp và người Việt xúc tiến khai thác các nguồn lợi biển (đánh bắt thủy sản, làm nước mắm, dịch vụ du lịch, vận tải biển). Đây là thơi kỳ dịch vụ du lịch biển được hình thành, khai thác các thắng cảnh biển sẵn có, từ Đồ Sơn ở Bắc bộ đến Nha Trang ở Trung bộ và Vũng Tàu ở Nam bộ. Trên địa bàn Nam bộ, chính quyền Pháp khuyến khích các tầng lớp quan lại tay sai, địa chủ, thực dân bao chiếm ruộng đất, đẩy mạnh nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá sẵn có, biến Nam bộ thành vùng sản xuất lúa dành cho xuất cảng, mà toàn bộ đầu ra nằm trong tay tư bản Pháp và tư bản Hoa kiều. Trên địa bàn Tây Nguyên và Đông Nam bộ, thực dân Pháp thúc đẩy hình thành các vùng trồng cây công nghiệp lớn như cà phê (Đắk Lắk), trà (Đồng Nai Thượng), cao su, cây ăn trái (Đông Nam bộ)… Cùng với sự hình thành một số ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại là sự ra đời mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, bưu chính…, kết nối các vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ với các đầu cầu xuất nhập cảng như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn.

Tuy nhiên, nhìn trên toàn cục, trong thơi kỳ này kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ đạo. Thủ công nghiệp yếu ớt, suy tàn trước sự xâm nhập của công nghiệp tư bản Pháp và hàng hóa nhập cảng. Kinh tế thương nghiệp lối cũ dựa trên sự luân chuyển hàng hóa giữa các làng nghề miền xuôi, các buôn bán miền núi, các thành thị và cảng thị, bị thất thế do sự phát triển kinh doanh của tư sản người Pháp, người Hoa và sự hình thành các trung tâm đô thị mới. Kinh tế công nghiệp, chủ yếu là khai khoáng và chế biến, và kinh tế thương nghiệp theo lối mới ra đời, tất cả đều nằm trong tay tư bản Pháp và tư bản Hoa kiều. Và do trọng tâm đầu tư, khai thác của thực dân ở các vùng miền rất khác nhau, nên cấu trúc văn hoá mưu sinh trong thoi kỳ này cũng khác nhau giữa các vùng miền: ở Bắc bộ – Bắc Trung bộ, là nông nghiệp – công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ; ở Trung và Nam Trung bộ là ngư nghiệp – nông nghiệp – lâm nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp; ở Nam bộ là nông nghiệp – ngư nghiệp – công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ. Tuy nhiên, nông nghiệp – ngư nghiệp – công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ là cơ cấu nghề nghiệp tương đối phổ biến, có thể xem là cấu trúc văn hóa mưu sinh tiêu biểu của người Việt trong thời kỳ thuộc địa bán phong kiến.

Trong cấu trúc văn hóa mưu sinh ấy, do sưu cao thuế nặng, các tầng lớp nông dân, ngư dân, diêm dân, công nhân, thợ thủ công, tiểu chủ, tiểu thương, viên chức cấp thấp, chỉ có thể có mức sống từ nghèo túng đến đủ ăn đủ mặc, chứ khó có thể ngôi lên làm giàu. Trong cấu trúc ấy, các chủ thể làm giàu chính là những tầng lớp không trực tiếp sản xuất của cải vật chất nhưng hưởng lợi từ việc sản xuất của các tầng lớp lao động chân tay: địa chủ, tư sản công thương (Pháp, Hoa), quan lại tay sai. Do các tầng lớp giàu có trong thời kỳ này đều dây máu ăn phần với chế độ thực dân bán phong kiến, nên đạo đức làm giàu của họ dĩ nhiên tồi tệ, và không cần phải nói nhiều về sự căm ghét tự nhiên của nhân dân bị trị đối với các tầng lớp ấy.

Chỉ có một tầng lớp làm giàu mới mà những người Việt Nam yêu nước có cảm tình và đặt nhiều hy vọng, đó là giới tư sản công thương người Việt. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền công thương nghiệp hiện đại của nước nhà cồn rất sơ khai và tập trung trong tay tư bản Pháp, Hoa, giới tư sản công thương người Việt chỉ mới manh nha, non yếu cả về số lượng và thực lực. Không chỉ non yếu về vị thế kinh tế, doanh nhân người Việt trong buổi giao thời cồn yếu thế cả về chính trị: là dân thuộc địa vong quốc (ở thuộc địa Nam kỳ và các thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng), là dân bảo hộ một cố hai tròng (ở Trung Bắc lưỡng kỳ), không được chế độ thực dân tin tưởng và khuyến khích phát triển.

Chuyển đổi ý thức hệ và đạo đức làm giàu

Thêm vào đó, vào đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân – Đông Du (1905-1908), phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-1908), phong trào Minh Tân (1907-1908) đã tưng bùng phát động tư tưởng yêu nước và duy tân trong các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, xã hội, và kinh tế. Trong đó, đi đầu về phát động tư tưởng yêu nước và duy tân kinh tế là Đông Kinh Nghĩa Thục. Thực hiện chủ trương đó, Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa Thục đã biên soạn sách Quốc dân độc bản (1907) bao gồm trong đó hàng chục đề mục nói về kinh tế, kinh doanh, và phổ biến bài “Họp quần doanh sinh thuyết” (1907) của Nguyễn Thượng Hiền dưới hình thức song thất lục bát Quốc ngữ để trình bày chủ trương kinh tế theo hướng Duy Tân: kêu gọi quốc dân chấn hưng thực nghiệp, bỏ vốn mở mang công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và khai mỏ… Bên cạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, Đông Kinh Nghĩa Thục còn khuyến khích các hội viên xúc tiến hàng loạt hoạt động kinh doanh, vừa để cung cấp tài chính cho nhà trường và cho phong trào Đông Du, vừa thực hành tư tưởng chấn hưng thực nghiệp. Tại Hà Nội, Đỗ Cơ Quang cùng các đồng chí mở hiệu buôn Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây chuyên bán hàng nội hóa, rồi cùng Vũ Hoành tổ chức hiệu thuốc Bắc Tụy Phương ở gần ga Hàng Cỏ. Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Quyền lập Công ty Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai, vừa bán tạp hóa vừa làm công nghệ như dệt xuyến hoa đại đóa, ướp trà, rồi lại lập Quảng Nam Hiệp thương Công ty. Nguyễn Quyền lập hiệu Hồng Tân Hưng ở Hàng Bồ buôn bán và, làm đồ sơn. Hưởng ứng phong trào, tại Hà Nội, các hội viên hoặc những người chịu ảnh hưởng của tư tưởng Duy Tân còn lập Công ty Nghiêm Xuân Quảng buôn bán the lụa Thái Bình, Công ty Đông Ích dệt và xuất khẩu lụa, hiệu buôn Nam Đồng Hương, hiệu Cát Thành (ở Hàng Gai).

Ở các tỉnh Trung Bắc lưỡng kỳ, phong trào lập hội kinh doanh cũng lan nhanh, ở Thái Bình, Nguyễn Hữu Cương tham gia xây dựng các trường Duy Tân ở phủ Kiến Xương, và mở một số hội buôn ở các phủ huyện như Đông Quan, Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải. Nguyễn Tùng Hương mở hiệu buôn Phúc Lợi Tế ở Phúc Yên và hiệu Hưng Lợi Tế ở Hưng Yên, bán đủ các thứ tạp hoá nội ngoại. Nguyễn Trác mở hiệu buôn Sơn Thọ ở Việt Trì. Ở Thanh Hóa, Công ty Phương Lâu thành lập từ năm 1885, chuyên buôn tơ lụa, do ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục đã mở rộng kinh doanh, lập thêm chi nhánh ở Vinh, Hà Tĩnh và Huế. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế tổ chức Triêu Dương Thương Quán ở Vinh, khuấy động phong trào Duy Tân – Đông Du ở vùng Nghệ Tĩnh. Ở Phan Thiết, Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh lập Liên Thành Thương Quán,…

Ở Nam kỳ, Trần Chánh Chiếu, lãnh tụ phong trào Minh Tân, công khai hô hào quốc dân duy tân cứu nước trên tơ Lục Tỉnh Tân Văn (11/1907-11/1908) do ông làm chủ bút; đồng thời thành lập hội Minh Tân và một loạt cơ sở kinh tài ở Nam kỳ như Nam Trung Khách Sạn ở Sài Gòn, Minh Tân Khách Sạn và Công ty Nam kỳ Minh Tân Công Nghệ ở Mỹ Tho… để tán trợ phong trào Duy Tân – Đông Du [Lý Tùng Hiếu, 2005].

Các hoạt động giáo dục, tuyên truyền của phong trào Duy Tân – Đông Du và các hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng của phong trào này, tuy chưa cải thiện được thân phận của giới tư sản công thương người Việt, nhưng đã giúp canh tân não trạng của người Việt đối với vấn đề kinh doanh, thương mại. Theo quan niệm phổ biến của thời kỳ phong kiến, doanh thương là phương tiện lợi mình hại người của “bọn lái buôn”. Nhưng từ đầu thế kỷ XX, doanh thương đã được nâng lên thành một phương thức tự tồn, tự cương mới của dân tộc Việt Nam, kết hợp trong nó truyền thống văn hoá của dân tộc với kỹ thuật kinh doanh tân tiến của thế giới.

Trong quá trình đổi mới nhãn quan đối với kinh doanh và đạo đức làm giàu ở thòi kỳ này, cần phải nói đến công lao của Lương Văn Can, một trong những người tiên phong phát động phong trào chấn hưng thực nghiệp, tham gia khởi xướng và kiên trì theo đuổi chủ thuyết Duy Tân trong kinh tế, kinh doanh. Đây có thể xem là chủ thuyết kinh tế đầu tiên của Việt Nam mà trong đó, kinh doanh công thương nghiệp đã được đề cao và được định hướng rõ ràng nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, vừa vực dậy nền kinh tế kiệt quệ và què quặt vì chiến tranh xâm lược và chính sách vơ vét của thực dân, vừa xây dựng nội lực kinh tế cho cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ. Chủ thuyết ấy được thể hiện tập trung trong hai tác phẩm mà Lương Văn Can biên soạn trong những năm tháng lưu đày ở Nam Vang và xuất bản sau khi cụ trở về Hà Nội năm 1921: Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn.

Nội dung của Thương học phương châm là bàn về vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế đất nước, về những nguyên nhân và hướng khắc phục tình trạng thương mại yếu kém ở nước ta. Theo Lương Văn Can, ” đương buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài thi sức ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ, buôn bán càng thịnh đạt“. Trong khi đó, ở nước ta nghề buôn bán vẫn chưa được mở mang mà nguyên nhân là vì nước ta chưa có thương phẩm, thương hội, thương học, và người nước ta ít có chí làm thực nghiệp, lại thiếu những đức tính và kỹ năng cần thiết đế có thế tiến xa trên “trường thương chiến”. Để khắc phục tình trạng đó, mọi người cần chú trọng đến thực nghiệp, tức là những nghề nghiệp mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống con người như công – nông – thương nghiệp, đồng thời phải lưu tâm nghiên cứu thương học, tức là khoa học về thương mại. Như vậy thì mới có thể phát triển nghề buôn. Và nghề buôn phát triển thì mới đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì trong tời đại bây giờ, chính ” các đại quốc do thông thương mà làm được phú cương, các nhà đại tư bản do kinh thương mà phú gia địch quốc “.

Trong Kim cổ cách ngôn, Lương Văn Can lại đề cập vấn đề từ một góc độ mà ngày nay thường gọi là đạo đức kinh doanh, văn hoá kinh doanh. Vừa vận dụng kinh nghiệm bản thân, vừa huy động truyền thông văn hóa dân tộc, Lương Văn Can đã đưa ra lời khuyên cho giới kinh doanh, đặc biệt là những người quen dùng thủ đoạn kinh doanh gian xảo, lợi mình hại nguời, gây tiếng xấu cho cả giới thương nhân trong lịch sử. Theo cụ, kinh doanh vốn không mâu thuẫn với đạo đức, người kinh doanh thành đạt vẫn có thể giữ được sự trung thực và tâm đức. Thậm chí, bằng tất cả sự trải nghiệm của mình, cụ còn khắng định: “Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là ở sự trung thực. Nghĩa là nguồn lợi thu về phải theo lẽ tự nhiên, đừng bao giớ vì lợi mà làm điều xằng bậy hoặc phiêu lưu mạo hiểm. Giả dụ như người tích trữ gạo, vải mà lại mong mất mùa lúa, mùa bông thì đó là cái tâm địa ích kỷ, độc ác. Lại có người kinh doanh chuyên mua thừa bán thiếu, làm hàng giả để đánh tráo hàng thật, cũng bởi lòng tham không cùng mà thôi. Xét kỹ ra, người ta giàu nghèo là ở tâm đức, ở lòng ngay thẳng, khoan hậu với người, đây cũng là phép thuật kinh doanh vậy! Kìa xem những người bụng dạ khắc bạc, trong kinh doanh chỉ chăm chắm lợi mình, hại người, nguồn lợi trước mắt thu về nhiều đấy, vậy mà tương lai con cháu mạt vận. Cũng là bởi đạo trời ban phúc cho người thiện, trừng phạt kẻ gian tà. Vậy nên nhà kinh doanh phải lấy điều đó mà xem xét mình”. Nói như ngôn ngữ ngày nay thì nhà kinh doanh cần phải có đạo đức, có lòng nhân hậu, không nên để cho sự tham lam, sự thiến cận lấn át đạo đức, lương tri.

Kim cổ cách ngôn như vậy có thể nói là một sự bổ sung cho cuốn Thương học phương châm để thành một bộ sách giáo khoa hoàn chỉnh cho những người muốn học nghề kinh doanh, thương mại. Theo những ý tưởng chủ đạo của hai tác phẩm này, kinh doanh làm giàu phải gắn liền với lợi ích dân tộc, lợi ích toàn xã hội. Việc làm giàu phải có tâm, có đức, có đạo. Trong bối cảnh hụt hẫng ý thức hệ những thập niên đầu thế kỷ XX, hai tác phẩm này giống như cánh én báo hiệu mùa xuân, đánh dấu sự ra đời của một tầm nhìn mới, một kiến thức mới, một phương pháp mới đối vói lĩnh vực kinh doanh – thương mại của doanh nhân và trí thức Việt Nam. Với hai tác phẩm này, Lương Văn Can đã trở thành cột mốc khơi nguồn trong lịch sử kinh doanh hiện đại của Việt Nam, vì mặc dù trước đó đã có một vài tài liệu học tập tuyên truyền có nội dung kêu gọi chấn hưng thực nghiệp do các chí sĩ Duy Tân biên soạn, nhưng chưa có ai đi xa hơn Lương Văn Can trong việc mổ xẻ đến tận cùng các căn bệnh cố hữu của nền kinh tế và của giới doanh nhân trong nước, đưa ra các đơn thuốc nhằm hiện đại hóa việc kinh doanh và lành mạnh hóa thương giới nước nhà. Trong lịch sử kinh tế học Việt Nam, hai tập sách này có một vị trí rất đặc biệt, không chỉ vào lúc nó ra đời mà cả về sau, vì cho đến vài ba thập niên sau đó, sách biên khảo về kinh tế, kinh doanh của người Việt Nam vẫn còn là của hiếm. Theo đánh giá của nhà sử học Dương Trung Quốc, Kim cổ cách ngôn là “một thứ sách giáo khoa bàn về cách làm giàu và bàn về của cải để mong tìm ra một cái ‘đạo làm giàu’ của người Việt Nam mà không bị cuốn vào cnn lốc làm giàu của xã hội thuộc địa” [Dương Trung Quốc, 20011; còn Thương học phương châm “cũng lại có thể coi là cuốn sách giáo khoa về thương mại”, và với tác phẩm này, “cụ cử Can xứng đáng là người đầu tiên gây dựng và truyền bá ‘đạo làm giàu”‘, mở ra truyền thống “làm ăn”, kinh doanh cho doanh nhân Việt Nam [Dương Trung Quốc, 2004].

Những năm hai cuốn sách trên ra đời cũng là giai đoạn thực dân Pháp tiến hành kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ 2. Như một sự tiếp nối phong trào chấn hung thực nghiệp và tư tương duy tân trong lĩnh vực kinh doanh, những năm 1916-1921, Lương Văn Can đã cùng con gái là Lương Thị Trí, con dâu là Nguyễn Thị Hồng Đính lập ra ba hiệu buôn ở Nam Vang và hình thành đường dây buôn bán giữa Hà Nội, Sài Gòn với Nam Vang – một thứ “công ty xuất nhập khẩu” đầu tiên trong lịch sử của thương nhân người Việt. Năm 1917, Liên Thành Thương Quán được đổi thành Công ty cổ phần hữu hạn và nơi trụ sở chính từ Phan Thiết vào Chợ Lớn. Tiếp sau đó, từ năm 1919 đến Cách mạng tháng Tám, lần lượt nổi lên một số nhà tư sản dân tộc như Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô, Nguyễn Sơn Hà… Hoạt động kinh doanh của họ được hỗ trợ bởi một số phong trào yêu nước như phong trào tẩy chay Cắc Chú, phong trào dùng hàng nội hoá. Một số người trong số họ đã có những đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Như vậy có thể thấy, đạo đức làm giàu trong thời kỳ thuộc địa bán phong kiến cũng là một nghịch lý lớn. Do ý thức hệ phong kiến đã lụi tàn, ý thức hệ tư sản mới phôi thai, đạo đức làm giàu trong thời kỳ này phải đứng hai chân: một chân là giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam, một chân là văn hóa kinh doanh tiếp biến từ văn hóa phương Tây. Sự kết hợp đó không phải là ngẫu nhiên, tự phát mà có chủ trương hẳn hoi, khởi đầu từ chủ thuyết Duy Tân trong kinh doanh và phát triển với tư tưởng của Lương Văn Can về đạo đức làm giàu của thương nhân. Đôi với địa chủ, tư sản công thương (Pháp, Hoa), quan lại tay sai là những tầng lớp đè đầu cưỡi cổ nhân dân, chẳng ai hoài công bàn đến “đạo đức làm giàu” của họ. Đối với tư sản công thương người Việt, theo Lương Văn Can, nội dung của đạo đức làm giàu chủ yếu là lòng yêu nước, có ý thức về thân phận vong quốc, có tư tưởng duy tân, ý chí tự cường, có chí làm thực nghiệp, lưu tâm nghiên cứu thương học, trung thực, ngay thẳng, tâm đức, khoan hậu. Đối chiếu với những tiêu chuẩn đạo đức làm giàu của thời kỳ tự chủ trước đó như chuyên cần, tiết kiệm, gan dạ, tham lam vừa phải, chúng ta thấy có sự đổi mới rõ rệt về tiêu chuẩn đạo đức làm giàu trong bối cảnh đất nước tụt hậu, mất chủ quyền. Trên thực tế, những tiêu chuẩn đạo đức làm giàu này đã được một số doanh nhân đương thời theo đuổi, không hẳn vì họ đọc sách của Lương Văn Can, mà vì sự tác động của những hoàn cảnh khách quan khiến cho họ không thể hoặc không muốn làm giàu theo cách bán mình cho chế độ thực dân.

Kết luận

Bối cảnh hoạt động của các chủ thế làm giàu ở Việt Nam trong lịch sử rất khác nhau. Thời tự chủ, các chủ thể làm giàu sống trong bầu khí quyển thuấm nhuần luân lý của Nho giáo. Thời Pháp thuộc, các chủ thể làm giàu sống trong bầu khí quyển duy tân tự cường để cứa nước giúp dân.

Ngày nay, các chủ thể làm giàu như doanh nhân nước ngoài, doanh nhân Việt Nam, cán bộ chức quyền, và những chủ thể làm giàu tiềm năng như tiểu chủ, tiểu thương, nông dân giỏi, ngư dân giỏi…, không sống trong những bầu không khí như vậy mà trong một “chiến trường”, ở đó chân lý thuộc về kẻ mạnh, lẽ phải thuộc về người chiến thắng. Do đó, họ cần phải huy động mọi phương tiện thủ đoạn dù tốt dù xấu, miễn đạt được thành công. Vì vậy, các tiêu chuẩn đạo đức làm giàu tuy cũng có nhưng chưa hoàn chỉnh và chưa hiệu quả. Những bức tường để ngăn chặn các doanh nhân Việt Nam và cán bộ chức quyền làm điều xấu bao gồm lương tri – lương tâm, dư luận xã hội và luật pháp đều chưa đủ vững, chưa đủ tầm cao, nhất là khi người kinh doanh có thể dễ dàng nhảy thót hoặc đi vòng qua những bức tường ấy với sự giúp sức, đưa đường dẫn lối của các cán bộ chức quyền. Vì vậy, nên chăng xây dựng lại từ đầu đạo đức làm giàu cho doanh giới Việt Nam? Nếu như vậy thì theo chúng tôi, lực lượng thiết kế và thi công ngôi nhà đạo đức ấy trước hết là bản thân doanh nhân, doanh giới, chứ không thể là một lực lượng nào khác, làm giúp cho họ và đem tặng họ. Nếu họ quyết tâm làm thì điều đó hoàn toàn không khó. Vì thông tin, tri thức về văn hoá kinh doanh, đạo đức kinh doanh ngày nay rất dễ tìm. Và trong số những thông tin, tri thức ấy, họ có thể đọc lại lịch sử để xem xét một số giá trị đạo đức làm giàu của doanh nhân Việt Nam mà nhà cách mạng Duy Tân Lương Văn Can đã đề ra: lòng yêu nước, có tư tưởng đổi mới, ý chí tự cường, có chí làm thực nghiệp, lưu tâm nghiên cứu thương học, trung thực, ngay thẳng, khoan hậu, có tâm, có đức.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lý Tùng Hiếu (2005), Lương Văn Can và phong trào Duy Tân – Đông Du HCM, Nxb. Văn Hóa Sài Gòn.

2. Lý Tùng Hiếu (2012), “Văn hóa và hế thống văn hóa”, Tạp chí Khoa học Văn hóa và Du lịch, ISSN: 1859- 3720, SỐ7(61), 11/2012.

3. Hoàng Phê chủ biên (1998), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội – Đà Nẵng, Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học.

4. Duơng Trung Quốc (2001), “Đạo làm giàu của doanh nhân”, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp, số 32, 19-4-2001.

5. Dương Trung Quốc (2004), “Soi lại tấm gương xua”, Báo Tiền phong, số 205, 13-10-2004.

6. Dương Trung Quốc (2008), “Gây dựng ‘đạo làm giàu'”, www.chungta.com, chúng tôi ,3-10-2008.

7. Hồ Chí Minh (2002), Hồ Chí Minh toàn tập,tập I, Hà Nội, Nxb. Chính Trị Quốc Gia.

Nguồn: Tạp chí Xưa và Nay, số 452, tháng 10,

Cập nhật thông tin chi tiết về Chi Phí Nhà Ở Gia Tăng Đang Làm Mở Rộng Khoảng Cách Giàu Nghèo Ở Úc / 2023 trên website Rafs.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!